12:49 ICT Thứ tư, 28/06/2017
CHÀO NĂM HỌC MỚI 2016-2017

Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 6


Hôm nayHôm nay : 248

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 6297

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 549067

Trang nhất » Tin tuc

GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG - MẢNH ĐẤT VÀ CON NGƯỜI XÃ NGHĨA THẮNG, HUYỆN NGHĨA HƯNG, TỈNH NAM ĐỊNH

CHUYÊN ĐỀ 
MẢNH ĐẤT VÀ CON NGƯỜI NGHĨA THẮNG

 
 
 
 
 
 
 

NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ
 - Giới thiệu và lịch sử hình thành và phát triển của xã Nghĩa Thắng;
                                                                                - Tìm hiểu một số nét văn hóa truyền thống trên quê hương Nghĩa Thắng;
                                                                                - Tìm hiểu về khu di tích lịch sử - văn hóa đền Bình Lãng xã Nghĩa Thắng, Huyện Nghĩa Hưng.
                                                                                                                                                    Sưu tầm và biên soạn: Trần Anh Cơ – GV Trung tâm GDTX Nghĩa Tân

 
 
MẢNH ĐẤT VÀ CON NGƯỜI NGHĨA THẮNG
I. Đặc điểm tình hình xã Nghĩa Thắng
- Xã Nghĩa Thắng nằm ở phía nam huyện Nghĩa Hưng, thuộc hữu ngạn sông Ninh Cơ.
   + Phía bắc giáp các xã Nghĩa Tân và Nghĩa Bình, huyện Nghĩa Hưng.
   + Phía đông giáp thị trấn Thịnh Long, huyện Hải Hậu (ranh giới tự nhiên là sông Ninh Cơ).
   + Phía nam giáp các xã Nghĩa Phúc và Nghĩa Lợi, huyện Nghĩa Hưng.
   + Phía tây giáp tỉnh lộ 490 và xã Nghĩa Lợi, huyện Nghĩa Hưng.
   + Diện tích tự nhiên: 8,82km2
   + Dân số: 7262 người, trong đó có 3.215 lao động với 1.750 hộ, là nơi có 2 tôn giáo đạo Phật và Thiên chúa giáo. Trong đó đồng bào theo đạo Thiên chúa 4.560 người chiếm 62,8% dân số.
- Dân cư ở đây có quê gốc ở các nơi: Hải Hậu, Vụ Bản, Xuân Trường, Nam Trực Trực Ninh... Hội tụ về đây  từ những năm đầu của thế kỷ XX.
II. Quá trình thành lập xã Nghĩa Thắng
- Theo tư liệu còn để lại vào năm Thành Thái thứ tư (1902) một số cư dân Hải Hậu làm nghề đánh bắt hải sản đã đến trú ngụ khu có các cồn cát cao (còn gọi là Cồn Vành) và sau đó đặt tên là Quần Vinh (nơi quần cư và vinh hoa). Đến năm 1905, Cụ Bùi Thành và ba người con trai lầm nghề biển vùng này cũng định cư ở đây; Tiếp đó đến năm 1907, các cụ Tư Luận, Trần Điền, Trần Thái, Mục Hán (người xã Nghĩa Thành hiện nay) cũng ra đây sinh sống. Năm 1915, Một số cư dân Vụ Bản, Hải Hậu cũng xuống đây thăm dò địa thế và định cư ở đây. Đến năm 1929, năm Bảo Đại thứ ba dân cư các nơi đến quần tụ sinh sống ở đây đã khá đông và hình thành những nhóm dân cư gồm: Quần Vinh xóm Lương 182 đinh, Quần Vinh xóm Gióa 223 đinh, Phú Vinh 95 đinh, Bình Lãng 210 đinh, Phương Đề 270 đinh.
- Đến cuối năm 1929, Tri phủ Nghĩa Hưng là Nguyễn Hữu Trung đã dâng sớ xin vua Bảo Đại cho lập xã. Triều đình đã xuống chiếu chỉ cho lập xã Quần Vinh gồm 500 đinh do ông Trần Thành Tu làm Lý trưởng.
- Đến năm 1931, nhân dân Quần Vinh, Bình Lãng, Ninh Hải cùng với ND trong tỉnh bắt tay đắp một con đê dài 17km từ thôn Thiên Bình (xã Nghĩa Bình ngày nay đến làng Ngọc Lâm xã Nghĩa Hải).
- Đến năm 1933 khi hoàn thành việc đắp đê, Nhà nước phong kiến Việt Nam Đã tiến hành phân chia các khu vục và thiết lập các xã mới trên vùng đất vừa được khai khẩn. Các xã này thuộc địa dư hành chính xã Nghĩa Thắng bao gồm:
      1. Xã Qần Vinh gồm 7 xóm từ xóm 1 đến xóm 7
      2. Xã Bình Lãng gồm 3 giáp và xóm Phương Đê
      3. Xã Ninh Hải gồm 6 xóm: Tây Cường, Nam Cường, Trang Hải, Phương Hải, Anh Hải, Đông Lạc.
- Đến những năm 40 của thế kỷ XX, các khu dân cư ở đây cơ bản đã ổn định như ngày nay. Đến tháng 8 năm 1956, tên xã Nghĩa Thắng chính thức được xác lập.
 
NGHỆ THUẬT ĐI CÀ KHEO-MỘT NÉT VĂN HÓA ĐỘC ĐÁO TRÊN QUÊ HƯƠNG NGHĨA THẮNG
 
- Từ xa xưa, những ngư dân xóm Quần Vinh đã gắn đời mình với đôi chân cà kheo để đi biển đánh bắt moi, tôm... gần bờ.
 - Đội cà kheo Quần Vinh được hình thành vào khoảng năm 1930, trên cơ sở đội trống của giáo xứ Quần Vinh. Hồi đó, đội cà kheo chỉ để phục vụ trong các nghi thức tôn giáo ở địa phương. Mãi đến những năm 1980, đội cà kheo mới có dịp được biểu diễn trong các lễ hội lớn của địa phương.  Từ đó, hễ có các ngày vui, lễ tết, hội hè từ xã, huyện, đến tỉnh đều thấy xuất hiện cà kheo Quần Vinh với những màn trò độc đáo trên những đôi chân lênh khênh, một phần quan trọng tạo không khí tưng bừng của ngày hội.
 - Ở Việt Nam, cà kheo cũng có ở một vài nơi nhưng “siêu” như Quần Vinh thì chưa nơi nào địch nổi. Với các trò làm xiếc;cùng trái bóng, múa rồng, nhào lộn xà đơn, xà kép, đấu võ, đấu kiếm, khiêu vũ... thật ấn tượng và vui nhộn. Cà kheo Quần Vinh đã làm nên nét văn hoá rất riêng;ở nhiều các lễ hội lớn trong nước: SEA Games 22; Liên hoan du lịch Quốc tế Hà Nội; Liên hoan du lịch Hội An...
 
MỘT VÀI NÉT VỀ KHU DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA
 ĐỀN BÌNH LÃNG THỜ HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG – TRẦN QUỐC TUẤN
- Đền Bình Lãng thuộc thôn Bình Lãng, xã Nghĩa Thắng, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định.
- Thôn Bình Lãng có diện tích 734,963 m2, được chia làm 2 xóm. Đền Bình Lãng nằm trên xóm 1 phía Tây Nam của Làng
- Đền Bình Lãng thờ Hưng Đạo Đại Vương – Trần Quốc Tuấn. Đền được xây dựng năm 1936 trên khu đất rộng 1901m2, đền quay hướng Nam và hoàn thành năm 1938. Sau đó nhân dân đã tổ chức về Quần Phương Nam (Hải Long – Hải Hậu) xin xao và rước một bản sác phong có niên đại Khải Định thứ 9 (1924), phong cho đền thờ Hưng Đạo Đại Vương – Trần Quốc Tuấn cùng chân nhang về thờ, tỏ ý không quên gốc gác, cội nguồn. Cùng thời gian này, nhân dân tiếp tục xây ngôi đình bên cạnh để làm nơi sinh hoạt, hội họp của làng nhưng sau đó đã bị chiến tranh tàn phá hoàn toàn và đến năm 2000, nhân dân đã tiến hành phục dựng lại ngôi đình.
 
LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG ĐỀN BÌNH LÃNG VÀ SINH H0ẠT VĂN HÓA DÂN GIAN
- Theo phong tục cổ truyền, lễ hội truyền thống đền Bình Lãng xã Nghĩa Thắng được tổ chức vào ngày kỵ Đức Thánh Trần, ngày 19, 20/8 âm lịch hàng năm.
            + Ngày 19/8 nhân dân tiến hành các hội tế nam quan, tế nữ quan thỉnh cầu Đức Thánh Trần cho Quốc thái dân an, phong đăng hòa cốc
          + Ngày 20/8 là ngày chính kỵ, dân làng tổ chức các hội múa Lân, múa Rồng sau đó tại đền diễn ra lễ tế vị anh hùng dân tộc  Trần Quốc Tuấn... Ngoài ra, để giao lưu, động viên tinh thần hăng say lao động ban tổ chức còn tổ chức các trò chơi dân gian: chọi gà, tổ tôm điếm, bắt vịt... Buổi tối tổ chức hát chèo, giao lưu văn nghệ.
 
ĐÔI NÉT VỀ THÂN THẾ, SỰ NGHIỆP CỦA HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG – TRẦN QUỐC TUẤN
- Trần Hưng Đạo là con trai An Sinh vương Trần Liễu, gọi vua Trần Thái Tông bằng chú ruột, và Công chúa Thụy Bà (chị ruột của vua Trần Thái Tông, và là cô ruột Trần Quốc Tuấn) là mẹ nuôi của ông. Nguyên quán ông ở xã Tiến Đức, Hưng HàThái Bình).
- Ông là người có “dung mạo khôi ngô, thông minh hơn người”, và nhờ “được những người tài giỏi đến giảng dạy” mà ông sớm trở thành người “đọc thông hiểu rộng, có tài văn võ” .
- Trần Quốc Tuấn là bậc tướng trụ cột của triều đình. Ông đã soạn hai bộ binh thư: Binh thư yếu lược và Vạn Kiếp Tông bí truyền thư để răn dạy các tướng cầm quân đánh giặc. Khi giặc Nguyên lộ rõ ý đồ xâm lược, Trần Quốc Tuấn viết Hịch tướng sĩ, truyền lệnh cho các tướng, dạy bảo họ lẽ thắng trận, tiến lui. Hịch tướng sĩ rất hùng hồn, thống thiết, khẳng định văn trương của một bậc “đại bút“.
- Trần Quốc Tuấn là một bậc tướng gồm đủ tài đức.
     + Là tướng nhân, ông thương dân thương quân, chỉ cho họ con đường sáng
     +Là tướng nghĩa, ông coi việc phải hơn điều lợi.
     + Là tướng trí, ông biết lẽ đời sẽ dẫn tới đâu.
     + Là tướng dũng, ông xông pha nơi nguy hiểm để đánh giặc, tạo những trận như Bạch Đằng oanh liệt nghìn đời.
     + Là tướng tín, ông bày tỏ trước cho quân lính theo ông sẽ được gì, trái lời ông thì gặp họa. Cho nên, cả 3 lần đánh giặc Nguyên, ông đều được giao trọng trách điều bát binh mã và đều lập công lớn.

- Mùa thu tháng Tám, ngày 20 năm Canh Tý (1300), “Bình Bắc đại nguyên soái” Hưng Đạo đại vương qua đời. Theo lời ông dặn, thi hài ông được hỏa táng thu vào bình đồng chôn trong vườn An Lạc, gần cánh rường An Sinh, không xây lăng mộ, đất san phẳng, trồng cây như cũ. Vua gia phong cho ông tước Hưng Đạo đại vương. Triều đình lập đền thờ ông tại Vạn Kiếp, Chí Linh. Nơi phong ấp của ông lúc sinh thời.
- Sau khi mất, Trần Hưng Đạo được thờ phụng ở nhiều nơi, trong đó lễ hội lớn nhất ở đền Kiếp Bạc thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương ngày nay, nơi ngày xưa là phủ đệ của Ngài. Ngài được người dân bao đời sùng kính phong Thánh tức là Đức thánh Trần, đây là điều hiếm hoi trong lịch sử chỉ dành riêng cho vị danh tướng nhà Trần. Ngày lễ chính thức được tổ chức vào ngày Ngài mất (20 tháng 8 âm lịch hàng năm). Nhân dân không gọi trực tiếp tên của Ngài mà gọi là Hưng Đạo Vương, Hưng Đạo Đại Vương, Đức thánh Trần, hoặc gọi là Cha (Tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ)./.
               

 

Thành viên